TIỆN ÍCH TÁC NGHIỆP

LIÊN KẾT GIÁO DỤC

TRUONG HOC KET NOI
OLYM

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO CLIP

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 37

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3583

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 194923

Trang nhất » Tin Tức » Văn hóa Xứ Nghệ

Các nhân vật lịch sử huyện Thạch Hà

Chủ nhật - 08/11/2015 08:31 | Số lượt đọc: 698
Chân dung anh hùng Lý Tự Trọng (1914-1931)

Chân dung anh hùng Lý Tự Trọng (1914-1931)

Các Đỗ đại khoa thuộc huyện Thạch Hà...
Huyện Thạch Hà *TX Hà Tĩnh
 
 
197- BÙI THỊ TRANG (1833-?)
 
Nữ lưu yêu nước, thường gọi là cô Trang, quê xã Phật Não, sau chuyển xã Phong Phú, nay là xã Thạch Khê, cùng huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là vợ cử nhân Nguyễn Cận còn gọi là Nguyễn Lương Cận (người làng Kỳ Trúc, xã Kiệt Thạch, huyện Can Lộc), con gái của Bùi Thố, đỗ Phó bảng khoa thi Kỷ Dậuiên hiệu Tự Đức 2 (1849), làm án sát Quảng Ngãi, Thị giảng học sĩ rồi lĩnh Đốc học Hải Dương. Năm 1885-1886, ông cùng với 2 con là Bùi Long (Đốc Long), Bùi Đồng (Ấm Hiền) và rể là Nguyễn Cận (có lẽ là Nguyễn Lương Cận) tổ chức nghĩa binh chống Pháp. Bùi Thị Trang có tham gia với tư cách là vận động binh lương. Trong một trận đánh ở Trại Lê, nay thuộc xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, Nguyễn Cận bị hy sinh. Thương chồng, bà viết bức thư này gửi Lê Ninh, người cầm đầu cuộc khởi nghĩa ở Trung Lễ (Đức Thọ) nói chí mình, lên án quân Pháp xâm lược gian ác, ca ngợi sự hy sinh của chồng và kêu gọi Lê Ninh tiếp tục hăng hái chống Pháp:
… Thiếp tôi thổn thức đêm ngày
Khuyên chàng sắt đá bình tây với người
Ai ngờ đâu lòng giời chẳng tưởng
Mới một phen xuất tướng đề binh
Trại Lê là đất giao chinh
Thất cơ thoắt đã thu binh trận tiền
Ôi chồng tôi gan liền sắt đá
Trước vì vua sau nữa vì dân
Làm cho tỏ mặt trung thần
Trước Gia Cát Lượng, sau Văn Thiên Tường…(1)
 
Theo Tổng hợp thơ văn yêu nước và cách mạng  xứ Nghệ -
Ninh Viết Giao .
 
(1) Theo ông  Thái Kim Đỉnh, vợ Nguyễn  Cận là Nguyễn  thị Huy Chúc, người cùng làng Ký Trúc, chưa rõ có phải là cô Trang hay không  , mà cô  Trang họ Bùi. Phải chăng Trang là tên con, đời sau không  rõ gán cho họ Bùi.
 
 
 
 
198- DÁI KÌNH
(Đầu thế lỷ XX)
 
Nghệ nhân dân gian, có tài hát giặm, quê ở Ba Giang, Xã Phù Việt, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Có người nói quê ông ở Hương Bộc, huyện Cẩm Xuyên. Chưa rõ tên là gì, chỉ biết ông họ Trần, Dái Kình là tên đứa con trai đầu, cũng như hĩm, chắc ở ngoài Bắc. Và cũng chưa rõ năm sinh, năm mất của ông.
Ông sớm bị mù nhưng lại sành về âm nhạc, đặc biệt là có tài ứng khẩu đặt những chuyện hát giặm. Nhà nghèo, ông phải sinh nhai bằng nghề xẩm xoan, thường trổ tài ở các chợ, nhất là chợ thị xã Hà Tĩnh. Và chính vì bị mù nên nghệ sĩ dân gian này đã bị chết oan khốc dưới bánh xe ôtô vào một ngày mưa gió.
Dái Kình còn giỏi môn kéo nhị. Mỗi lần hát giặm, ông thường kéo nhị để đệm vào giọng hát làm cho đám thính giả nghe mà mê mệt.Ông nổi danh về hát giặm song chủ yếu ở tài “nói trạng”. Phong cách của ông khá độc đáo. Khi đặt truyện ông hay dùng những ngôn từ rất lạ; thêm vào đó giọng hát của ông sôi nổi, mạnh mẽ càng làm tăng thêm vẻ độc đáo ấy lên.
Người đương thời đã có câu khen ông như sau:
Bốn phương trời chuyển động
Bốn cẳng chõng rung rinh
Ai nghe truyện Dái Kình,
Ai chưa chộ (thấy) chưa kinh
Tôi chộ rồi phải hãi (sợ)
Đây là một đoạn Dái Kình đặt, nói về một ả chết chồng:
…Đánh một chước(giấc) ngủ bày
Kẻ trộm vô trửa (giữa) ban ngay (ngày)
Hắn không tháo ách mở cày
Hắn trơ (vơ) mất một thớt cối xay
Đã tội tình chưa mự!
Đã oái ăm chưa mự!
 
Cũng là truyện hát của Nguyên Hạnh, giờ đây những người già chỉ nhớ được một số câu, song những giai thoại về ông thì nhiều
 
Theo hát giặm Nghệ Tĩnh
 
Đ
      
 
199- .ĐẶNG VĂN BÁ
(1877-1942)

 
Sĩ phu yêu nước cận đại ,có sách chép ông sinh năm 1873,tự là Thạch Bình,hiệu là Nghiêu Giang ,que làng Phật nõ,nay là xã Thạch Bình,huyện Thanh hà,tĩnh Hà Tĩnh.Đậu cử nhân khoa canh tý (1900),tham gia phong trào Duy Tân ,cùng với một số sĩ phu yêu nước
mở “Triêu Dương thương quán” ở Vinh,buôn bán hàng nội,sách báo mới để lấy tiền giúp đỡ những thanh niên Đông Du,năm 1908,nhân phong trào chống thuế nổi lên.Pháp bắt ông kết đày di Lao Bảo.Năm 1921 ,hết hạn bị đày ,ông về Sài Gòn một thời gian rồi ra Huế ở với Phan Bội Châu .Năm 1940,Phan Bội Chau qua đời ,ông mới về quê ,mất năm 1942.
    Ngoài hoạt động yêu nước ,Đặng Văn Bá còn là nhà thơ .Tác phẩm của ông phần lờn là chữ Nôm ,nay còn các bài :Chiêm Thành Hoài Cổ(2 bài),Vịnh Hai Bà Trưng ,Sống,Chết….chỉ có một bài bằng chữ Hán là Kim nhật đảo Côn Lôn.
   Đây là 1 trong 2 bài Chiêm Thành hoài cổ:
         Thành kia ai đắp ,tháp ai xay,
         Núi biển mênh mông một dãy này
         Vận đất đổi đời quanh quất đó
         Tuồng trời thua đựơc gớm ghê thay
         Giang son người đó hai hàng lệ
         Công nghiệp vua Hoàn máy cụm cây
         Cuộc thế rành rành gương trước mắt
         Kìa ai giấc ngủ vẫn còn say
                                                 1923
 
Theo Thơ văn nhà nho Xứ Nghệ
 
 
 
200- ĐẶNG VĂN KIỀU
( 1824 -1884)

 
Danh sĩ,ngưòi làng Phật Não,nay thuộc xã Thạch Bình,huyện Thạch Hà,tĩnh Hà Tĩnh.Đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý (1852),đỗ Dình Nguyên đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa nhã sĩ niên hiệu Tự Đức 18 (1865)  ,được thưỏng tấm Kim kháchmang 2 chữ Hiển Dương.Lúc đầu được phong Hàn Lam Viện Thị Giảng,nhậm Đốc học Bình Định,có sách nói Quảng Nam,sau khi đỗ Thám hoa thăng thị Giảng Học sĩ,giữ chức Quốc tử giám Toản tu,phong hàm Trung thuận đại phu.Hàn lâm thị giảng độc sĩ rồi được bổ làm án sát .Tác phẩm có Thi tập,lưu giữ tại gia đình nhung nay đã thất truyền,có tham dự việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục.Ông là người đã khởi thảo cuốn Đặng tộc gia phả.
 
Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam và Tác giả Hán nôm Nghệ Tĩnh
 
 
 
L
 
201- LÊ DUY NĂNG
(Thế kỷ XV)

Khai canh, vốn quê Ở Đông Thành, chưa rõ làng xế nào và năm sinh năm mất, chỉ biết ông tham gia nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Bình Định Vương Lê Lợi Cũng chưa rõ công trạng của ông ra sao, được phong chức tước gì Chỉ biết sau ngày đại thắng quân Minh, ông làm quan một thời gian rỗi về vùng đất hoang (có lẽ vào đời Hồng Đức khi nhà vua có chiếu cho các. quan đi khai khai lập đồn điền) bên Rú Nài, cạnh sông Rào Nậy (sông Nài) cùng một số gia đình ra sức khai phá đất đai lập nên xóm Bến Thủy.
Sau đó, một số người thuộc có họ Phan, Trần, Nguyễn, Trịnh, Phạm lần lượt đến khai khẩn chẳng bao lâu lập nên làng Văn Yên, nay là xã Thạch Yên thuộc thị xã Hà Tĩnh.
Truyền thuyết nói rằng, vùng Rú Nài hồi đó là một bãi hoan vu, thú dữ tất nhiều, khi khai ca--- lập ấp, hổ thường về quấy phá hoa màu, bắt trâu bò, chó lợn,... ông phải tìm cách diệt hổ, tổ chức --- đính trong ấp canh phòng, làm --- đào hố để bắt hổ. Trong một đang bố trí cách diệt hổ sơ ý hổ vồ, ông vật nhau với hổ thua phải chạy, nhưng ông thương nặng rồi mất.
Nhân dân vô cùng thương và nhớ ơn, lập miếu thờ, tôn là --- khai canh ra  làng Văn Yên, --- thu cúng tế. Miếu này nay vẫn --- các triều vua đều có sắc phong
 
Viết theo tài liệu của Thái Kim Đỉnh
 
 
202-  LÊ ĐÌNH PHƯƠNG
(Cuối thế kỷ XIX, đầu XX)

 
Sĩ phu yêu nước cận đại, người làng Thu Hoạch, nay là xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Là con đầu xứ Lê Hội, đỗ tú tài, tham gia Hội Duy Tân. Mùa thu năm 1909, Hội Duy Tân tổ chức cuộc binh biến để hạ thành Hà Tĩnh, đã giao cho ông trực tiếp liên lạc và chi tiền cho Đội Phấn và Quản Truyền là hai người chỉ huy lính khố xanh ở Hà Tĩnh, với kế hoạch đánh chiếm tỉnh thành và phá nhà tao giải thoát cho tù nhân. Đã được chuẩn bị từ đầu 1908 nhưng vì vụ đòi bỏ sưu giảm thuế xẩy ra tháng 5/1908 làm lỡ thời cơ. Sang đầu 1909, lực lượng nghĩa quân có 300 tay súng. Đội Phấn và Quản Truyền có 100 lính khố xanh vẫn chưa bị lộ, nên các yếu nhân của Hội Duy Tân như Đặng Thái Thân , Ngô Quảng, Lê Quyên, Phạm Văn Ngớn,... quyết định đánh thành Hà Tĩnh vào đêm trung thu tức ngày 28/9/1909. Theo kế hoạch đã định: chiếm trại lính, phá nhà lao, giết án sát Cao Ngọc Lễ,... Công việc chuẩn bị chu đáo tỉ mỉ nhưng chiều hôm đó Đội Phấn được lệnh của Pháp phải giải tù nhân ra Vinh chưa về kịp binh lính thiếu cảnh giác nên bị bại lộ. Quản Truyền và nhiều binh lính bị bắt. Kẻ địch tiến hành khám xét, vây ráp, đàn áp, khủng bố dữ dội.
Lê Đình Phương biết là thất bại liền cùng các yếu nhân trong Hội Duy Tân có mặt hôm đó phải im lặng rồi phân tán và tìm cách rút về căn cứ nghĩa quân ở Bố Lư. Trên đường về, Đội Phấn hay tin cũng trốn theo Đội Quyên để về BỐ Lư (Thanh Chương, Nghệ An). Lê Đình Phương có bị Pháp bắt giam tra hỏi một thời gian, sau về làm thuốc. ông có tập ghi chép về cuộc chống thuế năm 1908 và cuộc binh biến năm 1909 ở Hà Tĩnh cùng một số thơ, câu đối Hán Nôm.
 
Theo Từ điển Hà Tĩnh
 
 
 
 
203-  LÊ THỊ CẨM  LAI
( 1923- 2006)

 
Nhà thơ, ngày sinh 5/8/1923 tại Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, làm thơ với bút danh Cẩm Lai. Lúc trẻ bà hoạt động ở Hà Tĩnh trong đoàn thể Phụ nữ cứu quốc, làm nhiều thơ về phong trào phụ nữ rồi chuyển sang làm thư ký cho UBNDCM. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bà công tác ở Ty Bình Dân học vụ 1984, Cẩm Lai được đi dự lớp huấn luyện văn hóa kháng chiến tại làng Quần Tín (Thọ Xuân – Thanh Hóa). Từ 1949 – 1958 Bà lần lượt làm Phó trưởng ban văn thư của UBKCHC Liên khu IV, thư ký  Ban văn hóa xã hội và cứu tế - xã hội của Liên khu IV, Ủy viên thường trực BCH Hội sáng tác Liên khu IV...
Tháng 3/1961 Cẩm Lai được chuyển ra công tác Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ VN làm biên tập sách văn nghệ, rồi Trưởng phòng biên tập ở Nhà xuất bản Phụ nữ. Từ đây , con đường sáng tác của Cẩm Lai rộng mở.
Năm 1964 bà cho ra Tơ Tằm – Chồi biếc (in chung với Xuân Quỳnh) sau đó là các tập thơ : Những đóa hoa ban, Đất lên hương , Mùa Xanh, Sắc Biển, Hương Kỷ niệm , Nghiêng về ký ức, Mây Hồng, Lời thơ dâng Bác, …và các tập văn xuôi Thời con gái (tự truyện) , Bâng khuâng tà áo tím (hồi ký) , Qua những dòng sông (hồi ký),….
Nhà thơ Cẩm Lai sống khiêm tốn, đôn hậu và lặng lẽ. Đời thơ của bà không sang chói, ồn ào nhưng văn học sử Việt Nam không quên tên bà. Bởi thơ của bà là một sự rung cảm chân thành, là tình yêu sâu lắng tha thiét , gắn bó giữa riêng và chung, giữa hiện thực và lý tưởng, thể hiện trên bình diện rộng của cuộc sống, lao động và chiến đấu; của quê hương và đất nước; của con người xứ Nghệ và con người Việt Nam bằng những vần thơ trữ tình đằm thắm, giàu chất dân gian :
Trong Tơ Tằm của bà có hai câu :
Một nống tằm là năm nống kén
Một nống kén là chín nén tơ
Bà như một con tằm cần mẫn nhả tơ , rút ruột mình cho đời những áng thơ hay, chân tình, nhẹ nhàng đến giây phút cuối cùng.
Bà đã được thưởng Huân chương chống Pháp hạng Ba, Huân chương chống Mỹ hạng Nhất và nhiều huân,huy chương cao quý khác
 
Theo báo Văn nghệ, số 36, ra ngày 9/9/2006
 
 
 
204 - LÝ TỰ TRỌNG
(1914-1931)

 
Liệt sĩ cách mạng,tên thật là Lê Hữu Trọng, con ông Lê Hữu Đạt tức Lê Khoan ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà,tĩnh Hà Tĩnh. Vì đói nghèo gia đình ông phiêu bạt sang Thái Lan sinh sống từ lâu, năm 1915 ông ra đời tại bản Mạy, tỉnh Na Khôn, vùng Đông Bắc Thái Lan.
Ông sớm được đi học và có ý thức về những hoạt động cứu nước
Đầu năm 1926,được Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Trung Quốc cử người sang Thái Lan chọn đưa ông về Quảng Châu. Ở đây ông được Nguyễn Ái Quốc đặt tên là Lý Tự Trọng, rồi giới thiệu vào học tiếng Trung Quốc tại một trường  trung học của chính phủ Tôn Trung Sơn, sau đó về giúp việc tại cơ quan Tổng bộ ở Quảng Châu. Ông đã góp phần tích cực vào việc liên lạc giữa Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên với Đảng bạn và các cán bộ cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc , đồng thời tổ chức việc chuyển thư từ, tài liệu của Tổng bộ về nước.
Sau ngày chính phủ Tưởng Giới Thạch bắt giam trên 40 cán bộ cách mạng Việt Nam cư trú ở Quảng Châu.  Lý Tự Trọng cùng với cùng với một số cán bộ các mạng Việt Nam còn lại ở của Tổng bộ lánh sang Hương Cảng ( Trung Quốc). Ở đây , Trọng làm phu khuân vác ở bến tàu để nối lại mối dây liên lạc với các cơ sở của Hội ở trong và ngoài nước.
Mùa thu năm 1929, Trọng được đưa về Sài Gòn làm công tác ở cơ quan Trung ương An Nam Cộng sản Đảng, giữ nhiệm vụ liên lạc với các cơ sở để giao nhận tài liệu cả trong và ngoài nước, làm phiên dịch cho các đồng chí Trung Ương với các đồng chí quốc tế.
Tuy công việc bận rộn và hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, Trọng vẫn tìm mọi cách học tập thêm về chính trị và đọc sách báo văn nghệ tiến bộ .
Trong cuộc mít tinh kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái ngày 8/2/1931, Lý Tự Trọng đã bắn  chết tên mật thám Lơgơrăng (Legrand) để bảo vệ đồng chí Phan Bôi đang diễn thuyết tố cáo tội ác của thực dân Pháp và kêu gọi quần chúng đấu tranh đòi thả những chiến sĩ cách mạng bị chúng cầm tù. Ngay sau đó, ông đã bị địch vây bắt.
Trong tù, thực dân Pháp dung mọi thủ đoạn tra tấn tàn bạo nhất, làm cho ông chết đi, sống lại nhiều lần, nhưng chúng vẫn không khuất phục được người chiến sĩ cộng sản gang thép trẻ tuổi. Bọn chúng phải nể gọi ông là “Ông Nhỏ”.
Đứng trước tòa, ông vẫn tiếp tục vạch mặt bọn đế quốc và lớn tiếng tuyên truyền cách mạng. Trạng sư đứng ra bào chữa cho Trọng khẩn khoản xin Tòa khhoan hồng với lý do “chưa đến tuổi trưởng thành” nhưng ông tuyên bố:
-         Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng tôi hoàn toàn có đủ trí khôn để hiểu việc tôi làm, tôi làm vì mục đích cách mạng! Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác.
Bị kết án tử hình , trong nhà tù, hàng ngày Trọng vẫn tập thể dục và đọc truyện Kiều. Sau gần 21 tháng bị giam cùm ở Khám lớn Sài Gòn, ngày 20/11/1932, địch dựng máy chém ở ngay trước nhà giam để xử tử ông trong “không khí yên lặng”. Nhưng các tù nhân trong khám lớn đã nổi dậy phản đối dữ dội, nhân dân các khu phố cũng kéo đến phản đối. Một không khí căng thẳng, hỗn loạn vượt ra ngoài dự tính của đao phủ. Bất chấp, bọn chúng vẫn giết ông.Trước khi chết ông hát vang bài “ Quốc Tế Ca”.
Hiện nay tại địa bàn phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, có 1 con đường dài 1.265m, mang tên Lý Tự Trọng.
 
Theo Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh
 
 
N
 
205- NHIÊU NGỌ và O TỘ
( cuối TK XIX, đầu XX )

 
Nghệ nhân dân gian, cả hai đều có tài hát giặm, Nhiêu Ngọ quê ở Kẻ Nen ( Thạch Tiến, Thạch Hà ), còn O Tộ, có người nói quê ở Phù Việt, nay là xã Thạch Việt, Thạch Hà, tĩnh Hà Tĩnh, cô làm nghề hàng xáo. Đó là một cặp hát giặm giỏi, đặt bài hát hay, nhờ tài đối đáp mà quen thân nhau. Những câu hát đối đáp giữa hai người tương truyền khá nhiều, thanh có mà tục cũng có. Điều đáng chú ý là O Tộ cũng ăn miếng trả miếng, không bao giờ chịu lép Nhiêu Ngọ. Những câu hát trữ tình tứ thanh tao thì như câu:
Khi chưa quen O ( cô) Tộ
Gánh ló (lúa) tám, ló tư
Ngày anh quen O Tộ đến giờ
Gánh ló tư nỏ (không) nổi,
Gánh tư gồi không nổi
Gánh lúa tám lúa tư là gánh khỏe, mỗi đầu 4 lượm, 2 đầu 8 lượm, người trung bình chỉ gánh được 6 lượm còn gồi, 4 gồi ăn 1 lượm.
O Tộ trả lời:
Khi chưa quen Nhiêu Ngọ,
Gạo bốn thúng hai đầu
Đi chợ Trỗ, chợ Cầu
(đều ở Đức Thọ)
Chạy như buồm như gió
Từ ngày em quen Nhiêu Ngọ
Gạo một tiền thành hai
Gánh cất lên vai,
Chân buồm không muốn bước.
Còn đây là câu hát tục, O Tộ :
Sáng mai ngủ dậy
Em mở quán bán hàng
Chộ (thấy) Nhiêu Ngọ đi sang
Mắt nhìn dọc liếc ngang
Nom (dòm) con em tôi chi mãi?
Lấp ló nhìn chi mãi?
Nhiêu Ngọ đỏ mặt, hát đốp lại:
Dái ơi, ới Dái (1)
Ngủ chi mãi rứa mồ
Mi không dậy đi vô
Thăm con em coi thử
Đốc (giở) mùng màn coi thử
Cứ thế, klhi thì vui vẻ, khi thì ấm ức, tan đêm ra về; lần sau lại cùng đối đầm ầm hay gây sự , túuc tối,…luôn trả đũa nhau, để lại cho đời nhiều câu hát giặm thú vị .
 
Theo Hát giậm Nghệ Tĩnh
(1) Dái : tiếng gọi con trai của mình, ngầm ý tục
 
 
206- NGUYÊN HẠNH
(Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX )

 
Nghệ  nhân dân gian  , quê làng Vân Hội, huyện Thạch Hà , tỉnh Hà Tĩnh . Trong làng hát giặm Nguyên Hạnh khá nổi tiếng.  Khi xuân thu đã ngoài 80, ông  vẫn nghiện hát như buổi thiếu thời. Nhà nghèo, lúc nhỏ đi ở giữ trâu cho một nhà giàu. Tối nào cũng lẻn đi hát, bị nhà chủ ghét lắm. Có lần mờ sáng đi hát vừa về đến nhà thì gặp gia chủ thức dấyớm để mổ lợn. Lão ướm dao vào cổ Nguyên Hạnh dọa: Mi còn tối tối đi hát thì tao đâm chết”
Từ đó, mỗi đêm, lão bắt Nguyên Hạnh phải xay 05 thúng thóc. Ông  cố xay cho xong rồi trèo tường lẻn ra đi.
Nguyên Hạnh không  những  không  hát hay mà còn “bẻ chuyện” tài. Ông  đã làm thầy gà cho nhiều  đám con traiđi hát giăm nam nữ. Trong đời hát giặm của mình , Nguyên Hạnh thường chạm trán với Sợi Đườnghay còn gọi là Sĩ Đườngvà Út lan là tay hát giặm nữ có tài. Ông  đã đặt bao câu hát giặm và bài hát giặm vè, không  ai nhớ nữa, một số bài có ghi trong Hát giặm Nghệ Tĩnh  .
 
Theo hát giặm Nghệ Tĩnh  .
 
 
207 .NGUYỄN CAO ĐÔN
NGUYỄN HUY THUẬN
(thế kỷ XIX)

 
Nghĩa sĩ Cần Vương Nguyễn Cao Đôn đậu cử nhân ,quê ở làng Phật Não nay thuộc xã Thạch Bình,huyện thạch hà,tỉnh Hà TĨnh ,không ra làm quan hưởng ứng chiếu Cần Vương ông đã mộ nghĩa sĩ ngay tại quê nhà ,Nghe lời kêu gọi của ông ,nhiều tai tráng trong vùng đã tự sắm khí gíơi đến gia nhập nghĩa quân ,hai con của phó bảng Bùi Thố ở xã Phong Phú nay là xã Thạch khê cũng xung phong giúp Nguyễn Cao Đôn cùng chiến đấu chống pháp .
                                Nguyễn Huy Thuận ,quê làng Ngụy Dương ,nay là xã Thạch xuân ,cũng mộ quân ,lập đội nghĩa sĩ  rồi phối hợp với đội quân của Trần Danh Lập ở vùng Hạ Hoàng (Thạch Tượng ),rồi liên lạc với Nguyễn cao Đôn ,Qua hoạt động và vài lần cham trán với Pháp ,Nguyễn Huy Thuận đã trở thành người chỉ huy phong trào chống Pháp ở vùng Thạch Hà .
                                Gia nhập nghĩa quân Hương Sơn ,Nguyễn Huy Thuận và Trần Danh lập được cụ Đình và Cao Thắng giao cho chỉ huy quân thứ Thạch hà ,Nguyễn cao Đôn cũng dưới quyền điều khiển của hai ông ,nghĩa quân Thạch Thứ đã tham gia chống địch  càn quyets ở Truông Vắt ,khu  đất nằm giữa ba huyện Thạch Hà ,có thể lộc ,Hương Khê ,Năm 1892,trong khi địch tập chung dồn sức để tổ chức cuộc càn lớn ở Tràng Sim (nam Hương Sơn bắc hương khê )Nguyễn Huy Thuận đ ã phối hợp với kỳ thứ của Nguyễn Tiến Đắc tấn công địch ở Đồn Voi (kỳ anh).ngày 23/tám/1892,lợi dụng quân địch đang bị nghĩa quân Hương sơn ,Hương khê kìm chân ở miền núi ,Nguyễn huy Thuận đã cho nghĩa quân tấn công thắng lợi thị xã Hà Tĩnh ,tiêu diệt trại lính khố xanh ,phá nhà lao,rút an toàn .
          Nguyễn Huy Thuận ,Nguyễn cao Đôn ,Trấn Danh lập còn chỉ huy thạch thứ chiến đấu nhiều phen nữa   ,Nhưng khi cụ ĐÌNH qua đời ,phong trào Cần Vương tan dã thì cả ba đều sa vào tay địch ,Nguyễn Cao Đôn Bị giết ,Nguyễn huy thuận cùng nhiều người khác bị giặc Pháp bỏ cũi dìm xuống biển ở vùng Đèo Ngang ,không thấy nói gì về Trần Danh lập ,có lẽ ông cũng là một trong số đó chăng ?
 
Theo Lịch sử Nghệ Tĩnh  
 
 
208- NGUYN HUY ĐIN
(?- 1874)

 
Thủ lĩnh khởi nghĩa Giaùp Tuaát, thöôøng goïi laø Meä Ñieån, nhaân daân goïi laø Tuù Khanh. Queâ ôû laøng Nguî Döông, nay thuoäc xaõ Thaïch Xuaân, Huyeän Thaïch Haø, tænh Haø Tónh. Thi Höông ñaäu tuù taøi. Laø moät só phu coù uy tín veà hoïc vaán, veà chí khí, neân nhieàu ngöôøi ñaõ nghe theo lôøi keâu goïi cuûa oâng, hoaït ñoäng choáng Phaùp.
Naêm 1868, khi Traàn Taán, Ñaëng Nhö Mai vaän ñoäng nhaân daân ñuoåi boïn ngöôøi Phaùp giaùn ñieäp ñoäi loát thaày tu ra khoûi Thanh Chöông thì Nguyeãn Huy Ñieån cuøng moät soá tuù taøi ôû Haø Tónh cuõng bí maät baøn keá choáng Phaùp. Söï vieäc baïi loä, bò baét giam, song ông  đã gây được  nhiều cơ sở chống Pháp ở Hà Tĩnh. Ngày 08/01/ Giáp Tuất (1874) cuộc khởi nghĩa nổ ra. Thủ lĩnh là các ông  Trần Tấn, Đặng Như Mai, Trần Quang Cán….
Cuộc khởi nghĩa lớn mạnh nhanh chóng, Trần Quang Cán đưa nghĩa quân chiếm thành Hà Tĩnh, đồng thời giải vây cho Nguyễn  huy Điển. Thoát khỏi nhà lao, ông  trở thành một trong những  thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất. Ông  đã dẫn quân xông pha nhiều  trận, lập nhiều  chiến công. Nhưng khi triều đình Huế tăng cường đàn áp, thành Vinh, thành Diễn Châu không  hạ được, nghĩa quân Giáp Tuất bị suy yếu ở Hà Tĩnh , Trần Quang Cán bị bắt, ông  trốn sang Cam Cớt (Lào), cuối 1974, Nguyễn  Huy Điển cũng bị bắt, bị giết. Ông  có để lại một số thơ văn bản Hán Nôm như : Lời đề đầu cuốn sỏ mộ quân và Bài hát khi bị điên.
 
Theo Lịch sử Nghệ Tĩnh, Kho tàng vè xứ Nghệ và Từ điển  Hà Tĩnh
 
 
 
 
209- NGUYỄN PHAN CHÁNH
(1892 -1984)

 
Danh họa, quê ở thôn Tiền Bạt, xã Truing Tiết, huyện Thạch Hà, nay thuộc phường Tân Giang, thĩ xã Hà Tĩnh . Vì nghèo, tuổi nhỏ phải mấy lần bỏ học , rồi theo thầy vẻong các chợ. Năm  1925, trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương thành lập, ông  là thí sinh duy nhất của miền Trung trúng tuyển khóa I. Năm  học thứ III , giật giải thi tem, và là tác giả tem thư đầu tiên của Việt Nam  được  in ở Paris  năm  1928. Triển lãm mỹ thuật đầu tiên gửi sang Pháp năm  1931, bức tranh lụa Chơi ô ăn quan của  ông  được  báo chí đặc biệt ca ngợi. Ra trường, ông  trở về xứ Nghệ sống giữa nông thôn, vẽ truyền thần kiếm sống. Ra Hà Nội ông  mở phòng triển lãm riêng ở nhà Địa ốc Ngân hàng,ở Hội Khai Trí Tiến Đức và tham gia triển lãm bộ ba ở Hội Trí  tri Bắc Kỳ.
Sau cách mạng  tháng Tám 1945, ông  là Ủy viên Ban chấp hành Hội văn hóa cứu quốc tỉnh Hà Tĩnh , chuyên vẽ tranh tuyên truyền phục vụ kháng chiến chống Pháp . Từ năm  1954, dạy trường Cao đẳng Mỹ thuật và tham gia Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam  . Tranh ông  vẫn theo chủ đề nông thôn đổi mới : Tát nước tập đoàn, Bừa tập đoàn, Vườn trẻ HTX, Sau giờ lao động, Chống hạn, Rê lúa, Bữa cơm vụ mùa thắng lợi. Năm  1962 triển lãm tranh lụa Nguyễn  Phan Chánh được  tổ chức mừng thọ ông  60 tuổi, , giới thiệu hơn 60 bức. Tranh ông  tập trung diễn tả vẻ đẹp phụ nữ nông thôn trong đời bình thường. Ông  còn vẽ nhiều  tranh khác, như tranh kháng chiến : Sau giò trực chiến; tranh thiên nhiên: Trăng lu, trăng tỏ; tranh vẽ theo tác phẩm  như : Tiên Dung, Kiều,…
Tranh lụa Nguyễn  Phan Chánh từng được  trưng bày ở Pháp (1931), Ý (1934); Nhật (1940);…Dịp mừng thọ họa sĩ 90 tuổi, 47 tranh lụa Nguyễn  Phan Chánh được  giới thiệu ở Tiệp Khắc và Hunggari. Năm  sau 1983 lại giới thiệu 54 tranh ở Liên Xô, Ba Lan, Rumani, ….ở đâu cũng thu được  cảm tình của người xem.
Ông  là đại biểu Quốc hội khóa III, là họa sĩ đầu tiên được  tặng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương lao động hạng nhất và hạng ba và được  Giải  Hồ Chí Minh  đợt 01/1996
 
Theo Từ điển  NVLSVN
 
 
 
 
210-  Nguyễn Thiếp (B)
(1894-1932)

 
Chiến sĩ cách mạng , quê làng Phù Việt , nay là xã Thạch Việt , huyện Thạch Hà , tỉnh Hà Tĩnh , cha mất sớm , mẹ nuôi cho ăn học . Học hết tiểu học , nhà nghèo , ông phải bỏ học , về làng mở lớp dạy tư . Năm 1927 , tham gia tổ chức Tân Việt , năm 1928 được cử phụ trách Đại tổ Tân Việt Thạch Hà , bổ sung vào BCH Tỉnh bộ Tân Việt Hà Tĩnh , đầu năm 1930 là đảng viên đảng CSVN , lần lượt giữ các chức vụ Uỷ viên BCH lâm thời Huyện ủy Thạch Hà trực tiếp phụ trách Phong trào các huyện phía nam. Đến tháng 7/1930, ông đã tổ chức xây dựng được 30 chi bộ cộng sản ở các huyện Thạch Hà , Cẩm Xuyên , Kỳ Anh , các chi bộ này đã đưa nông dân nổi dậy đấu tranh chống lý hào trông thôn xốm và ngày 8/9/1930 đã hòa vào cuộc biểu tình toàn tỉnh , kéo vào dinh công sứ đưa yêu sách . Sau cuộc biểu tình này Nguyễn Thiếp là bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh . Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thiếp đến tháng 3 năm 1931 , phong tráo đã phát triển rộng rãi , liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình với quy mô toàn huyện . Bọn thống trị điên cuồng khủng bố , ông đề ra nhiều biện pháp đối phó , đầu năm 1931 được bổ sung vào chấp hành xứ ủy Trung Kỳ , vẫn phụ trách phong trào Hà Tĩnh . Lúc này các Xô việt nông thôn đã hình thành khắp thôn xã Hà Tĩnh mà bấy giờ gọi là xã bộ nông , thôn bộ nông tức chính quyền đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng . Nhân dân sống trong những ngày sục sôi , phấn khởi của khí thế cách mạng . Năm đố trời nắng to , dài ngày , dân tình đói khổ, Nguyễn Thiếp nghĩ đến việc đắp đập , đào mương , chống hạn , làm mùa ,….. kêu gọi nhân dân giúp đỡ lẫn nhau , cải cách phong tục lạc hậu , dặc biệt là chống địch khủng bố , chống địch cưỡng ép nhân dân nhận thẻ quy thuận và rước cờ vàng….Tháng 05/1931, được  bổ sung vào Thường vụ Xứ ủy, ngày 21/sáu/1931, Nguyễn  Thiếp bị địch bắt ở phố Đệ Nhị, thành phố Vinh, Vẫn giữ vững khí tiết trước kẻ thù, mặc dù bị tra tấn dã man. Không  moi được  gì ờ người chiến sĩ cách mạng  kiên cường này, chúng kết án tù 13 năm  và đưa ông  đi đày ở Ban Mê Thuột. Nguyễn  Thiếp qua đời tại đây ngày 16/hai/1932, sau những  ngày bị tra tấn và đối xử tàn bạo của nhà tù thực dân Pháp.
 
Theo Những  người cộng sản trên quê hương Xô Viết
 
 
211- NGUYỄN VĂN NHÂM
(1946-1979)

 
Liệt sĩ ,Anh hùng LLVTND,sinh năm 1946,dân tộc Kinh ,quê ở Xã Thạch Điền ,huyện Thạch Hà .Hà Tĩnh .Khi hy sinh ,ông là đảng viên trung úy ,đại đội trưởng bộ binh đại đội ba ,tiểu đoàn hai ,bộ đội địa phương huyện Sình Hồ ,tỉnh Lai Châu ,Quân Khu hai .Từ năm 1965 đến tháng bốn năm 1975 Nguyễn Văn Nhâm chiến đấu 32 trận ở chiến trường Miền Nam ,đã lập nhiều chiến công xuất sắc ,ngày 17 tháng hai năm 1979 .địch dùng một trung đoàn bộ binh có  pháo yểm trợ đánh phá ác liệt và mở nhiều đợt tấn công ,hòng chiếm điểm cao 1262 (sình hồ).Nguyễn Văn Nhâm chỉ huy đơn vị đánh địch rất quyết liệt ở phía trước ,đồng thời tổ chức lực lượng xuất kích đánh vào sườn  giành giật với địch từng công sự ,hầm hào suốt từ sáng tời chiều .Quá ttrinhf chiến đấu ông luôn đi sát mọi người động viên giữ vững quyết tâm,kiên quyết bảo vệ trận địa ,Nguyễn Văn Nhâm bị thương nặng vẫn ở lại chiến đấu ,Hành động của ông đã động viên cổ vũ mọi nguời noi theo .Trong đơn vị một số chiến sĩ bị thương ở chân vẫn ngồi tại chỗ nạp đạn ,có người bị thương ở tay vẫn dùng tay trái bắn địch ,hoặc lấy răng rút chốt lựu đạn ném vào đội hình địch .kết quả ,đơn vị Nguyễn Văn Nhâm  đã diệt và làm bị thương 50 tên .Nguyễn văn Nhâm đã anh dũng hi sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ,Ông được tặn thưởng một huân chương Quân công hạng ba ,Một Huân chương chiến công giải phóng hạng ba ,hai danh hiệu dũng sĩ Mỹ, Ngày 20/12/1979, Nguyễn  Văn Nhâm được  Nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
 
Theo Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh 
 
P
212- PHAN HUY CẨN
(1722-1789)

 
Danh sĩ đời Lê Hiển Tông,sau đổi tên là Huy Áng,hiệu Thuận Trai,người làng Thu Hoạch,huyện Thiên Lộc ,nay là Can Lộc ,tỉnh hà Tĩnh.Là thân sinh của các ông Phan Huy Ích,Phan Huy Ôn và là ông nội của nhà học giả Phan Huy Chú.Gia đình từ Nghệ An chuyển ra Sơn Tây,thành dòng họ Phan Huy ở xứ Đoài,có nhiều người cô và chị em được tuyển dụng trong phủ chúa Trịnh nên càng thanh thế.
  Phan Huy Cẩn nổi tiếng thông minh từ nhỏ.Ông là học trò của các ông Đỗ Huy Kỳ,Nhữ Đình Toản,đượccác thầy khen ngợi có tư chất thông minh.Đỗ giải nguyên (1747) rồi đồng tiến sĩ(1754).Vì tránh tên huý con vua,đổi tên là Phan Huy Áng.
Được cử làm quan ,giữ nhiều chức vụ,nhiều nơi và cũng nhiều lần thăng giáng.Đã giữ các chức Hiến sát Hải Dương,Tham khổn Kinh Bắc,Đốc đồng Đông hải (Quảng Bình),Đốc thị ở Thuận Hóa.Trở về triều,ông là Thị Lang các Bộ Công,Bộ Binh,giảng  quan Quốc tử giám đến 65 tuổi,về hưu thăng Công bộ tả thị lang.Sau này Chiêu Thống còn mời ông ra làm Tham tụng và Tổng tài Quốc sử,nhưng ông từ chối,về nghỉ ở ấp Yên Sơn ,xã Thụy Khuê,phủ Quốc Oai,Hà Tây.
Phan Huy Cẩn đã biểu lộ một tài năng xuất sắc và một đạo đức công minh,liêm khiết khiến người đương thời kính phục.
Khi làm quan,làm chức vụ gì,dù ở Trấn thành hay ở kinh đô,ông đều hoàn thành đầy đủ ,không phiền nhiễu đến dân,giữ được chính tích tốt.hồi trấn giữ được Đông hải,ông chỉ có vài trăm quân mà đã bố trí trận địa chống đối khiến địch phải thất cơ ,ông thuyết phục được chúng về hàng,lập chiến công xuất sắc.
          Thời kỳ ông mới về triều ,mang tính chất của sĩ  phu xứ Nghệ ,không chịu quỵ lụy Đỗ Thế Giai ,đã bị thải về .Trở lại quê ông mở trường dậy học ,sống trong cảnh nghèo nàn ,nhưng không thèm tỏ ý băn khoăn hay oán vọng .Thấy ông cùng cực ,nhiều bạn bè đã tới an ủi .Phan Huy Cẩn đã trả lời một câu nổi tiếng ;”cứ giữ cho lòng thênh thang thì cùng hay đạt  cần gì phải hỏi tạo hóa “.Phẩm chất này đã khiến mọi người kính phục .Nguyễn Bá  Lân đã yêu cầu chúa trịnh phải mời ông ở lại.Phan Huy Cẩn  không để lại tập thơ nào tron vẹn .chép truyện của ông con trai ông là phan huy ôn nói rằng “Bình nhật nếu không có  duyên cớ gì thì ông không làm văn thơ “.ông chỉ có đôi câu đối dán cạnh chỗ ngồi để tỏ ý chí của mình :( dich)
                             Gõ bánh lái giữa dòng ,nhường để người này giàu đởn lược
                             Ẩn mình nơi khe núi ,hãy cùng các cụ tinh nhàn du .
          Cả dòng họ Phan huy sau này có nhiều nhà thơ văn xuất sắc là nhờ chịu ảnh hưởng giáo dục mở đầu của con người tài cao và đức trọng này .
 
Theo Tự điển Văn hóa Việt Nam
 
 
213- PHAN HUY CHÚ
(1782-1840)

         
Danh sĩ triều  Nguyễn ,nhà bác học ,nhà thơ tự là Lâm Khanh ,hiệu là Mai Phong .Phan Huy Chú là con trai thứ ba của Phan Huy Ích ,quê gốc ở thu hoạch ,Thạch Hà ,tỉnh  Hà Tĩnh ,nhưng sinh ra và lớn lên ở xã Thụy Khê(làng thầy ),Huyện Quốc Oai ,tỉnh Hà Tây.Lớn lên trong buổi loạn lạc ,ông không tham gia các hoạt động xã hội ,chỉ ở nhà chăm chỉ học hành .đọc sách .Hai lấn thi Hương nhưng ông chỉ đỗ tú  tài ,Đương thời vẫn gọi là ông tú Thầy hay kép thầy .năm 1821 Minh Mệnh biết tiếng ,triệu ông vào Kinh đô huế làm Biên tu ở viện Hàn Lâm ,rồi làm phủ thừa Phủ thừa thiên sau thăng lên làm Hiệp trấn Quảng Nam.Được ít lâu ông bị giáng chức triệu về Huế làm thị độc ở Viện Hàn Lâm  .Cũng  thời Minh Mệnh  ông được cử đi sứ nhà Thanh hai lần  với cương vị là phó sứ  .Đó là vào các năm 1824 và 1830 .cuối năm 1832 ông lại được cử đi công cán ở Inddoonexia ,rồi chuyển về làm công việc ở Bộ công ,đưc một thời gian ,ông chán cảnh quan Trường ,lấy cớ bị đau chân xin về quê dậy học  và  viết sách .
          Cống hiến chủ yếu và rất to lớn của  Phan Huy Chú là một công trình biên khảo lớn ,một tập sách nghiên cứu trong thời gian này ,ông hoàn thành bản dịch trinh phụ ngâm (tác giả Đặng Trần Côn )ra chữ Nôm .tháng ba/1822,ông mất ,thọ 73 tuổi  .ông còn nhiều tập thơ văn quý giá để lại,như cúc đường bách  vịnh .dụ âm ngâm tập ,Dụ Am văn tập ,nam trình tạp vịnh ,Thanh chau lữ hứng ,vận sơn khiển  hứng ,vv…Đáng chú ý là ;
          Dụ am ngâm tập là một bộ sách chép khá đầy đủ thơ của Phan Hữu Ích ,làm từ trước khin đậu giải nguyên dưới chiều lê ,qua các giai đoạn ;làm quan triều lê ,làm quan triều Tây Sơn phụ trách ngoại giao ,sang sứ Trung Quốc ,đến mãi thời  Gia Long về nhà dậy học mỗi giai đoạn chép thành một sách có sáu quyển ,mỗi quyển có tên riêng .
          Dụ am văn tập ,gồm tám quyển thu thập  các bài văn của tác giả soạn từ năm 1780 đến trước khi tác giả mất (1822)trong đó có nhiều loại văn thư :Biểu  chương loại ,Giảm trat loại,Thể các loại Ai vãn loại ,…
          Hai bộ sách trên đuề là những tài liệu quý giá về lịch sử ,văn học trong những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX .Nó cho ta thấy Phan Huy ích không chỉ là một nhf chính trị tài năng mà còn là nhà văn nhà sử học uyên bác .
          Hiện nay ở thành phố Vinh ,tại địa bàn phường Trung đô ,có ,một con đường dài 250m .mang tên  Phan Huy Chú
 
Theo Lược truyện các tác giả Việt Nam (tập I)
 
 
 
 
214- PHAN HUY ICH
(1751 – 1822)
Văn thần triều Tây Sơn, nhà văn, quê  làng Thu Hoạch ,huyện Thiên Lộc ,nay là xã Thạch Châu huyện Thạch Hà ,tỉnh Hà Tĩnh hiệu là Dụ Am . Ông sinh năm 1751 (sách TĐNVLSVN, xuất bản ở Thành phố Hồ Chí Minh ghi ông sinh năm Canh Ngọ , 1750) là học trò và cũng là con rể của Ngô Thì Sĩ . Năm 1775, ông đỗ đầu khoa thi Hương ở Nghệ An, năm 1775 lại đỗ đầu khoa thi Hội, trong những năm 70 thế kỷ XVIII  ông làm Đốc đồng Thanh Hóa trông coi công việc an ninh của xứ này. Năm 1777, ông được lệnh mang ấn kiếm, sắc phong của chúa Trịnh ban cho  Nguyễn Nhạc ở  Quảng Nam.Đây là lần đầu tiên trực tiếp giao thiệp với anh em Tây Sơn.Sau đó,  Phan Huy Ích được thăng lên chức Hiến sát sứ Thanh Hóa,trông coi các công việc xét xử,luật pháp.Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai, Nguyễn  Hữu Chính bị diệt, bè lũ Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh, Phan Huy Ích bỏ lên Sài Gòn(làng Thầy) Quốc Oai, Hà Tây, chấm dứt  14 năm làm quan cho chính quyền Lê-Trịnh. Tháng 5/1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích cùng với Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn,Nguyễn Thế Lịch ra hợp tác với Tây Sơn.Phan Huy Ích được phong làm Tả thị lang Bộ Hình tước Thụy Nham Hầu. Ông cùng với Ngô Thì Nhậm được giao nhiệm vụ xây dựng chính  quyền Tây Sơn Bắc Hà. Mùa xuân năm Kỉ Dậu(1789), cuộc hành quân thần túc của Quang Trung quét sạch 29 vạn quân xâm lược Thanh và bè lũ bán nước,ông vui mừng nói :
          Đáng thương mấy vạc xương ngoài lũy
          Hồn oan theo gió đến Xương Giang
 Sau đại thắng quân Thanh, ông phụ trách các ngoại giao. Cuối tháng /1790, một phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giả Quang Trung dẫn đầu sang nhà Thanh mừng vua Càn Long 80 tuổi. Phái đoàn này có Ngô Văn Sở là trọng thần hàng võ,Phan Huy Ích là trọng thân hàng văn.Đoàn đã thành công tốt đẹp, vua Càng Long đã sai thợ vẽ chân dung quốc vương (giả)ân lễ trọng hậu’’. Đầu năm 1792, ông làm Thị trung ngự sứ ở Tòa nội các.Giữa năm 1792 Quang Trung mất, ông cố gắng giúp vua trẻ Quang Toản.Năm 1975, ông trông coi công việc đắp đê ở Sơn Nam Thượng(Hà Nam). Trong thời  gian ở đất Bắc, ông nghiên cứu Phật học, viết bài tựa cho tập sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm. Mùa xuân năm 1802, quân Nguyễn Ánh ra Bắc, ông bị bắt cùng với  Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bi đánh đòn trước Văn Miếu. Sau khi được tha ông trở về Sài Sơn ẩn dịch, rồi về quê hương xứ Nghệ mở trường dạy học. Theo nhiều nhà nghiên cứu,trong  thời gian này, ông hoàn thành bản dịch Chinh phụ ngâm(tác giả Đặng Trần Côn) ra chữ Nôm. Tháng 3 năm 1822, ông mất, thọ 73 tuổi. Ông còn nhiều tập thơ văn quý giá để lại như, Cúc đường bách vịnh, Dụ Am ngâm tập, Dụ Am văn tập, Nam trình tạp vịnh, Thanh châu lữ hứng, Vận sơn khiển hứng, v.v… Đáng chú ý là:
  - Dụ  Am ngâm tập là một bộ sách chép  khá đầy đủ thơ của Phan Huy Ích, làm trước khi đậu giải nguyên dưới triều Lê, qua các giai đoạn làm quan triều Lê, làm quan triều Tây Sơn phụ trách ngoại giao, sang sứ Trung  Quốc, đến mãi thời  Gia Long về nhà dạy học , mỗi giai đoạn chép thành một sách có 6 quyển, mỗi quyển có tên riêng.
 - Dụ Am văn tập, gồm 8 quyển, thu thập các bài văn của tác giả soạn từ năm 1780 đến trước khi tác giả mất(1822) trong đó có nhiều loại văn như: Biểu chương loại, Giản trát loại, Thế cáo loại, Ai vãn loại,…
  Hai bộ sách trên đều là những tài liệu quý giá về lịch sử, văn học trong những  năm cuối thế kỷ XVIII  đầu thế kỷ XIX. Nó cho ta thấy  Phan Huy Ích không chỉ là một nhà chính trị tài năng mà còn là một nhà văn nhà sử học uyên bác.
   Hiện nay ở thành phố Vinh, tại địa bàn phường Trung Đô, có một con đường dài 250 mét, mang tên Phan Huy Ích
 
Theo các nhà khoa bảng Việt Nam
Và từ điển NVLSVN
 
 
 

215- PHAN HUY ÔN
(1754-1796)

 
          Nhà sử học ,nhà toán học ,là em Phan Huy ích ,quê xã Thu hoạch ,huyện Thiên Lộc ,nay là xã Thạch Châu ,huyện Thach hà ,tỉnh Hà Tĩnh , sau rời ra làng Thụy Khuê ,huyện Quốc Oai ,Hà tây .Thuở nhỏ ,tên là Khuông ,tự Trọng Dương ,hiệu Nhã Hiên,đi thi Hương đổi tên là Ôn ,tự Hòa Phủ ,hiệu chỉ am .Năm  1779,ông đỗ tiến sĩ ,làm đốc đông trấn  Sơn Tây rồi chuyển sang làm Đốc đồng Thái Nguyên :về Kinh là thị chế hàm lâm viện ,khi mất được tặng chức Mỹ Xuyên bá .
          Tác phẩm có :liệt chuyện đăng khoa lục ,khoa bảng tiêu kỳ ,chỉ am thi tập Nghệ  an Tạp ký .chỉ minh lập thành toán pháp ,… 
          Phan Huy Ôn được người đời tôn trọng ở phương pháp biên khảo nghiêm túc và sự  quan tâm đến toán học .Trong các sách viết về khoa cử ,ông đã có  công viết khá kỹ tiểu sử  một số nhân vật danh tiếng như Nguyễn  Trãi .bổ sung được một số người mà các  sách đăng khoa khác bỏ sót,bổ sung một số khoa thi chưa chính quy như khoa thi đầu tiên khi Lê lợi mới đến Đông Đô .Ông cũng sắp xếp lại rành mạch những người đỗ đạt theo từng huyện ,từng tỉnh …rất bổ ích cho việc nghiên cứu của người đời sau .
          Chỉ minh lập thành toán pháp của ông co   quyển ,dạy về bàn tính ,bảng cửu chương ,các phép tính cơ bản ,trong đó có cả bình phương ,khai phương ,lấy số pi,,phép đo đạc khi có việc đắp đê , chở thuyên…ông nhấn mạnh ý nghĩa phương pháp luận của việc học toán ;”suy rộng ra cũng như đạo sửa mình …hoặc cách biến hóa đó cũng như đạo trị nước ,phép xử lý trong thiên hạ ,nguyên lý đều thâu tóm trong các con số đó mà thôi ,…nếu sai một ly là có thể nhầm lẫn một dặm
 
Theo Tự điển văn hóa Việt Nam và Tự điển Hà Tĩnh
 
 
 
216- PHAN HUY THỰC
(1779-1846)

 
          Danh sĩ đời nguyễn ,ông tự là Vị Chỉ ,hiệu là Xuân Khanh (khuê nhạc ),thụy Trang Lương,con trai Phan  huy Ích ,anh Phan huy chú .quê gốc ở thôn chi Bông ,xã  Thu Hoạch ,sau chuyển sang thôn gia mĩ ,huyenj Thiên Lộc (nay đều thuộc huyện Thạch Hà ,tỉnh Hà tĩnh ).Từ năm 1787,ông nội của Phan Huy Thực là Phan huy cẩn nghỉ quan về nhập tịch ở làng Thụy khê ,huyện yên sơn ,phủ Quốc oai ,Trấn sơn tây ,nay cũng là làng Thụy Khuê (làng thầy),Quốc oai .Hà Tây .
          Dưới Thời Tây Sơn và đầu đời Nguyễn Phan Huy Thực ,không đi thi ,ở nhà dậy học .Năm 1813 ,do Phạm Đăng Hưng tiến cử ,ông được gọi vào huế làm ở hàn lâm viện .năm 1817 ,ông được cử làm phó  sứ đi sứ nhà thanh ,Trung  Quốc ,rồi được giao chức thiêm  sai trong bộ lễ ,rồi hiệp trấn Lạng  Sơn ,sau laiij được gọi về triều ,thăng dần lên tới chức thượng thư .năm 1833 ông làm tổng tài biên soạn bộ đại nam thực lục chính biên .Minh Mạng Ban dụ khen :”Quốc gia điển lễ tắc phi ,Phan Huy Thực bất khả “(nghĩa là : điển lễ quốc  gia nếu không có Phan Huy Thực thì không thể được ).Ông còn được giao cai quản toa khâm thiên hgiám làm dich và xem thiên văn .Phan Huy thực hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực :Âm nhạc ,thiên văn ,lịch pháp ,giáo dục ,văn học ,điển lễ .ông sáng tác tập :sứ trình tạp vịnh (chữ hán )và nhân ảnh vấn  đáp .dịch tỳ bà hành ra chử nôm .
          Nguyên tác tỳ bà hành là của bạch cư dị (772-846).từ khi bản diễn âm chữ nôm ra đời và được ca ngợi là lưu loát bảo đảm được cả cái thần của cả nội dung và nghệ thuật trong nguyên tác .lại có mầu sắc của phong thất lục bát Việt Nam thì có nhiều nghi vấn về tác giả đích thực .giả thuyết này được giáo sứ hoàng Xuân Hãn khẳng định trong trinh phụ ngâm bị  khảo .
 
Theo Tự điển Văn hóa Việt Nam
 
 
 
217- PHAN HUY VINH
(1800-1870)

 
          Danh  thần đời Nguyễn ,tự là Hàm Phủ ,hiệu là sài Phong ,con Phan Thực ,quê gốc ở thu Hoạch,nay là xã Thạch Châu,huyện Thạch hà ,tỉnh Hà Tĩnh .ra ở yên sơn (nay là xã Thụy Khuê,huyện Quốc Oai ,Hà Tây).Năm  1828,ông đỗ cử nhân ,bắt  đầu  làm chủ  sự bộ hình rồi ăn sát Quảng Bình ,thăng đến thượng thư bộ lễ ,Tổng tài Quốc sử  quán Đại thần Thượng bạc .Đii sứ  nhà Thanh hai lấn  .Lần  đầu năm 1841,lần sau kéo dài ba năm (1854-1856)ông làm chánh sứ .năm 1863 ông là thành viên trong đoàn sứ bộ do phan thanh dản dẫn đầu snag Pháp thương  thuyết chuộc lại ba tỉnh Đông Nam Bộ.Năm  1870 bị giáng xuống làm Tham tri vì có kẻ gièm pha .Bực mình ông xin về trí sĩ liền sau đó thì mất .
          THƠ văn còn lại có:Nhân Trình tùy bút ,như Thanh sứ trình và tương truyền có bản  dịch tỳ  bà hành gọi tỳ bà hành diễn nghĩa .trong đó Như thanh sứ trình là một tập nhật ký ,ghi lại cuộc hành trình tứ Phú Xuân đến Yên kinh .Tác giả đã  ghi lại nhiều tài liệu rất  cụ thể về nghi lễ ngoại giao trong các cuộc đón đưa sứ giả  ,các nghi thức  xe thuyền ,cờ  quạt ,những vật cống hiến ,…Ngoài tác giả còn ghi chép được một số đặc điểm về địa lý lịch sử ,phong tục và nhiều truyền thống dân gian mà ông thu được trong những vùng đã  đi qua .Còn nhân trình tùy bút là một tập thơ gồm 80 bài ,thể hiện rõ nét phong thái hào hoa của một du khách hơn là vẻ nghiêm túc của một vị chánh sứ.
         
Theo Tự điển Văn hóa Việt Nam
 
 
218- PHAN LIÊU
(Thế Kỷ XIV-XV)

 
          NGười làng Đông Lỗ ,nay thuộc xã thạch Đài huyện Thạch Hà ,tỉnh Hà  Tĩnh .Cha là Phan Quý Hữu ,từng giữ  chức Trấn thủ nghệ an thời   Hậu Trần  .Giặc Minh xâm  chiếm  nước ta ,Hữu đã phản  bội làm  tay sai cho giặc nên được giữ chức  ấy .Khi chết con là phan liêu lên thay .Trần  Trùng Quang xây dựng căn cứ chống Minh ở chi  lai ,sai Nguyễn  Biểu  đến Lam  Thành cầu hòa với Trương  Phụ .Phụ dọn cỗ đầu  người ,Nguyễn  Biểu than nhiên ăn  và đọc bài thơ Ăn cỗ đầu  người .Trương  Phụ  khâm phục khí tiết  của sứ thần nước ta ,thả  cho về .Nguyễn Biểu vừa đi khỏi ,Trương Phụ hỏi phan liêu :” Nguyễn Biểu là người thế nào hỏi”.Phan Liêu đáp rằng :”Hắn là  bậc hào kiệt  ở An  Nam , ông muốn chiếm  lấy An Nam ,nếu  không có người này công việc không xong xuôi được ‘.Nghe  vậy Trương phụ cho người đuổi theo bắt Nguyễn Biểu lại ,Nguyễn Biểu giận mắng .Trương Phụ cho trói ,đạp Nguyễn Biểu ở Chùa Yên  Quốc , rồi sai đem trói ở cầu Yên Cư để nước lên dìm cho chết .
          Về sau Phan Liêu giác ngộ lòng yêu nước .hối hận việc đã nói với Trương Phụ để  đến nỗi Nguyễn Biểu bị giết ,ông từ quan ,cùng với Lộ Văn luật đưa một số quân lính lên xây dựng căn cứ chống Minh ở biên giới Việt Nam .Lê Lợi kéo nghĩa quân Lam Sơn vào Nghệ An ,sau chiến thắng  Trà Long ,Phan Liêu đem lực lượng về ,xin ra nhập nghĩa quân Lam Sơn ,được Lê Lợi sai đem quân  tham gia nhiều trận đánh ở Nghệ An và ngoài Bắc .
 
Theo Tự điển Hà Tĩnh và lịch sử Nghệ Tĩnh (tập 01)
 
S
219- SĨ ĐƯỜNG
VÀ DÌ TƯƠNG
(Cuối thế kỷ XIX)

 
    Nghệ nhân hát giặm,quê ở Đồng Lưu,nay là xã Thạch Đồng,huyện Thạch hà,tỉnh Hà Tĩnh,sau sang ngụ ở Kẻ Nen,nay là xã Thạch Tiến,Thạch Hà,Sĩ Đường với Dì Tương ở Ba Giang cùng truyện cũng là một cặp đối đáp tương đắc.Truyện hát của họ hay đến nổi:
   Cung trạm cộ (cũ) có Dì Tương
   Kẻ Nen có Sĩ Đường
   Hát giặm nổi bốn phuong
   Ai nghe chuyện Sĩ Đường
   Về bán bò mua cuốc.
  Cung trạm cũ tức Ba Giang.Bán bò mau cuốc có nghĩa là họ hát hay và đặt chuyện hát hay đến mức có “bày dại” thì người nghe quá say mê cũng tin là đúng.Những bài hát của họ,câu chuyện đối đáp về tình ái giữa họ vói nhau,giờ đây không còn lưu truyền lại được mấy.
  Ngườì ta còn nói,những năm cuối thế kỷ XIX ,ông đã tự nguyện làm một nghĩa quân Hương Sơn do Phan Dình Phùng lãnh đạo.Ông đã dùng tài nghệ hát giặm của mình để hát và đặt truyện hát cổ động Cần Vương,cổ động tinh thần cứu nước của nhân dân.Tiếc thay những bài hát ấy không còn,hay đã lận lộn vào kho hát giặm mà ta thường nghe kể.
   Còn Dì Tương ,bà vẫn sống trong lòng nhân dân.Cho đến bây giờ nhân dân Thạch Hà còn đồn :
Lên voi múa búa
Lên ngựa múa dây cương
Ai nhắc chuyện Dì Tương
Bốn phương trời chuyển động.
 
Theo Hát giặm Nghệ Tĩnh
 
T
 
 
220- TIU HÀO
(Cuối thế kỷ XIX,đầu XX)

 
Nghệ nhân dân gian,quê ở Cổ Bái,nay thuộc xã Thạch Ngọc,huyện Thạch Hà,tĩnh Hà Tĩnh.Vừa xinh đẹp,vừa hát hay,trong cuộc đời hát giặm của mình,Tiu Hào đã ví hát với nhiều người.Tài hát giặm của cô được nhiều người ca ngợi.Thường nghe câu:
 
Tui (tôi)con khái  (hổ)vằn,
Cậu(anh)giống con khái  vàng
Nép ở dọc bờ đàng (đường )
Chộ (thấy) o tiu đi ngang
Tôi hót quặc hót quàng …
Cậu hót quặc hót quàng…
“Hót “ có nghĩa là chụp lấy ,ôm lấy ,ý nói ai thấy nàng cũng muốn giành làm bạn riêng của mình .Nhân dân Thạch Hà chỉ nhớ mấy người sau đây là thân thiết hơn cả với Tiu hào :
-Tiu hào và Đường không phải là sĩ Đường bố mà là Đường con ,người Thạch Hà .
-Tiu Hào và Chau Lan cũng người Thạch Hà .
-Tiu Hào và Xã Tam ,người Cẩm Xuyên .
          Cả ba người ấy đều là những tay hát giặm có tài ,nhưng lần nào cũng gặp gỡ đối  đáp họ cũng thua Tiu hào .
          Có lần Đường con hát với Tiu Hào ,bị thất trận với cái tài hát đầy câu đố hiểm  hóc của cô gái đẹp ,thẹn quá về nói với Đường cha ,ông già quyết trả thù cho con .Đến kể bái trổ hết “ngón nghề”của mình cả hai bên đối đáp suốt canh dài,nhưng rồi về sáng Đường Cha cũng phải im lặng ra về .Nhiều người còn nhớ đoạn hát  giặm của Tiu hào đáp lại mấy câu hát của Sỹ Đường khi ông muốn nhà mình rất đỗi giàu sang :
…Tỏ với bạn hảo cầu ,
Nhà em nghèo ngặt đã lâu
Không có nhà cửa lèo tàu  
Không có trâu buộc ngõ trước
Không có bò buộc bãi sau
Không có ló  xây đụn cơn đau
Trải đã mấy ni lâu
Đọi (bát)đàn múc canh rau
Thìa sứt cuống đã lâu
Đũa chó khới (gặm)hai đầu
ớ  quân tử hảo cầu ,
Tới nhà em ta nhởi!
Cô đã phơi bày cái nghèo ngặt của mình làm cho sĩ Đường .Từ đó về sau người dân phía Nam xứ nghệ ít thấy ông già sĩ đưỡng xuất hiện trong các cuộc hát giặm nam  nữ nữa.
 
Theo hát giặm Nghệ Tĩnh 
 

 
222- TRƯƠNG SĨ
(1915 -1965)

 
Anh hùng lao động ,quê ở làng Khang Quý,nay thuộc xã Thạch Quý,thị xã Hà Tĩnh.Trước năm 1945 làm phụ xe và lái xe khách cho chủ hiệu xe Hưng Ký (Thị xã Hà Tĩnh).Tham gia giành chính quyền ở Hà Tĩnh sau là lái xe của chủ tịch tỉnh.Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ,về quê một thời gian,sau phục vụ cho ngành giao thông vận tải,tham gia chiến dịch Cao –Bắc –Lạng (1951) rồi chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).Sau khi hòa bình (1954) ông sang học ở Liên Xô (cũ) và trờ thành cán bộ lãnh đạo ngành giao thông ,là đại biểu Quốc hội khóa I (1946) và khóa II (1960),được tuyên  dương Anh hùng lực lượng lao động năm 1958.Hy sinh trên đường đi công tác từ Vĩnh Linh ra Hà Nội giũa tháng 7 âm lịch năm 1965.
 
Theo từ điển Hà Tĩnh
 
 
223- TRƯƠNG QUỐC DỤNG
(1797 -1864)

 
Danh sĩ,đại thần đời Nguyễn, ông tên cũ là Khánh,tự  Dĩ Hành ,huyện Nhu Trung,quê ở xã Phong Phú,huyện Thạch hà,tỉnh Hà Tĩnh.
   Năm 1825,ông đỗ Cử nhân,năm 1826, đỗ Tiến sĩ ,làm tri phủ Tân Bình (Gia Định),tồi về kinh làm Lang trung bộ Hình;ít lâu bị cách chức  và phải làm hiệu lực ở bộ Lại.Năm 1833,ông theo Tham tái Trương Minh Giảng đánh nghĩa quân Lê Văn Khôi,làm án sát Hưng Yên (1840).Năm 1841,ông về triều làm Tả thị lang Bộ Lễ,rồi Bộ Lại,Bộ Hình,Bộ Công,được thăng đến Thượng thư Bộ Hình.
 Năm 1862,giặc ở Hải Yên (Quảng Yên),khởi loạn,vay đánh tỉnh thành Hải Dương,vua sai ông làm Hải Yên thống  đốc quân vụ đại thần,đốc quân tiến đánh,phá vỡ quân giặc,giải được vây,năm sau được thăng Hiệp biện đại học sĩ ,Thống đốc quân vụ.
  Năm 1864 ,giặc lại đánh phá ở Quảng Yên,quan quân địa phương chống không được ,bị thất thế.Vua lại sai ông cùng Tán lý là Văn Đức Khuê,Tán Tương là Trần Huy San đem quân đi tiểu trừ.Cả 3 đều bị giặc giết hại,Trương Quốc Dụng được truy tẵng hàm Đồng các đại học sĩ,năm thứ 33 đời Tự Đức (1880) được liệt vào thờ ở đền Trung Nghĩa.
  Ông là tác giả các sách :Công hạ kỷ văn,Nhu trung thi văn tập,Văn qui tân thể,Thoái thực ký văn.
Thoái thực ký văn là sách nói về phong tục ,chế độ,nhân phẩm,cổ tích,tạp sự,vật loại,…rất có ích cho các nhà nghiên cứu về lịch sử ,xã hội,văn hóa
 
Theo Đại Nam liệt truyện (tập 4)

Nguồn tin: phattrienmientrung.com

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn