TIỆN ÍCH TÁC NGHIỆP

LIÊN KẾT GIÁO DỤC

TRUONG HOC KET NOI
OLYM
VIO
GTTM

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO CLIP

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 105

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3334

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 184325

Trang nhất » Tin Tức » Tài liệu BDTX THCS

MODULE 36

Thứ hai - 03/04/2017 04:22 | Số lượt đọc: 311
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
NHÓM MODULE 5
MÃ MODULE 36
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
 
A. Mục tiêu bồi dưỡng:
Học viên có kĩ năng tổ chức giáo dục giá trị sống cho học sinh qua các môn học và hoạt động giáo dục.
B. Nội dung cơ bản của mô dun
* Đặt vấn đề:
Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, hai khái niệm thường được nhắc đến trong giáo dục nhân cách cho trẻ em là giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống. Ở Việt Nam hiện nay, khi nói đến giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, không ít người, kể cả một số giáo viên, vẫn cho rằng đây là một vấn đề mới, cần đưa vào nhà trường giáo dục học sinh trước khi trở nên quá muộn. Thực ra, điều đó không mới, chỉ là cách gọi khác của việc giáo dục đạo đức, thái độ (hình thành nhân cách) và giáo dục kiến thức, kỹ năng (bồi dưỡng nhân tài) cho học sinh.
Mặt khác, nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu vẫn không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi ích cho bản thân và cho xã hội. Không có nền tảng giá trị con người sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay, có khi còn tỏ ra tham lam, cao ngạo về kỹ năng, khả năng vốn có của mình.
Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân. Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất.
I. Quan niệm về giá trị sống và phân loại giá trị sống.
1. Quan niệm về giá trị sống (giá trị cuộc sống)
Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng. Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội.
          Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”) là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người. Giá trị sống trở thành động lực để người ta nổ lực phấn đấu để có được nó.
Những giá trị sống cơ bản thường được nhắc đến là hòa bình, công bằng xã hội, sự tôn trọng, đoàn kết, sự trung thực, tình bạn, tính vị tha… Chung quy là tất cả những gì mà con người cho là tốt đẹp nhất.
Có người cho rằng trở thành người giàu có mới là “giá trị đích thực”, có người lấy danh vọng làm thước đo giá trị, có người lại coi sự nhàn hạ là giá trị cuộc sống……
          Vì vậy, giáo dục học sinh nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều vô cùng cần thiết.
* Khái niệm: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Giá trị về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm: thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm.
* Lưu ý:
Kỹ năng sống và giá trị sống là hai khái niệm khác nhau nhưng có một sự gắn liền mật thiết với nhau. Giá trị sống là nền tảng hình thành kĩ năng sống. Kĩ năng sống là công cụ thể hiện giá trị sống.
2. Phân loại giá trị sống:
Các giá trị của con người rất phong phú và đa dạng mà con người lại sống trong môi trường xã hội, tham gia vào các hoạt động đa dạng, do vậy việc phân loại định hướng giá trị cũng rất phức tạp, song có thể chấp nhận một số cơ sở phân loại phổ biến như sau:
* Nếu căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích mà con người hướng tới, thì có 2 loại:
+ Định hướng giá trị xã hội: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân trong quan hệ với xã hội như lòng thương người, chấp hành luật pháp, lịch sự nơi công cộng, biết ơn thế hệ trước...
+ Định hướng giá trị cá nhân: là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị trong mối quan hệ với bản thân như lòng trung thực, sự khiêm tốn, vị tha, chấp nhận thử thách...
* Nếu căn cứ vào đối tượng của sự định hướng giá trị ta có:
+ Định hướng giá trị vật chất: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị vật chất như tiền bạc, của cải, cách làm giàu...
+ Định hướng giá trị tinh thần: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tinh thần như sự thanh thản, tình yêu nghệ thuật, yêu thương con người...
* Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con người đang theo đuổi ta có:
+ Định hướng giá trị tích cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tích cực như trung thực, thẳng thắn, giúp đỡ, thương người, tự hào dân tộc...
+ Định hướng giá trị tiêu cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tiêu cực như dối trá, hèn nhát, ích kỷ...
II. Vai trò và mục tiêu giáo dục giá trị sống cho học sinh trong giáo dục phổ thông
1.     Vai trò giáo dục giá trị sống cho HS trong giáo dục phổ thông
 
 
 
- Hình thành giá trị sống cho lứa tuổi vị thành niên là quan trong nhất bởi đây là lứa tuổi đang hoàn thiện phát triển nhân cách. Giáo dục giá trị sống là cái nền để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh hướng đến sự hình thành, phát triển nhân cách người học, giúp học sinh có năng lực học tập và những chọn lựa mang ý thức xã hội.
- Giúp học sinh có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình trong một môi trường học tập có sự khuyến khích, ủng hộ, quan tâm, sáng tạo.
1.     Mục tiêu giáo dục giá trị sống cho HS trong giáo dục phổ thông
GD GTS cho HS nhằm:
-         Định hướng tư duy
-         Định hướng hành vi
-         Định hướng cách giải quyết vấn đề
để học sinh sống, học tập và làm việc theo những giá trị sống chân chính, tích cực. phù hợp với thời đại.
III. Nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh
Giá trị sống là sống với từng giá trị chứ không phải chỉ là nói về các giá trị đó. Giá trị là gốc còn kỹ năng chỉ là phần ngọn. Vì vậy, dạy về giá trị sống là dạy cái gốc rễ của cuộc sống, là dạy cho học sinh cách sống với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Đối với học sinh THCS nội dung giáo dục giá trị sống là dạy cho học sinh biết sống với các giá trị sống phổ quát của nhân loại và những giá trị sống truyền thống của dân tộc.
a. 12 giá trị sống phổ quát của nhân loại  (những giá trị mang tính nhân loại, có nghĩa là không phân biệt màu da, quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị đó)
1. Hòa bình: Hòa bình không chỉ là sự vắng bóng của chiến tranh. Nếu mỗi người đều cảm thấy bình yên trong lòng thì hòa bình sẽ ngự trị trên khắp thế giới.
2. Tôn trọng: Bẩm sinh con người vốn là quý giá. Một phần của lòng tự trọng là biết về các phẩm chất của mình và tôn trọng phẩm chất của người khác.
3. Yêu thương: Trong một thế giới tốt đẹp, quy luật tự nhiên là yêu thương; và trong một con người tốt lành, bản chất tự nhiên là biết thương yêu.
4. Hạnh phúc: Hạnh phúc sẽ mỉm cười khi lòng ta tràn ngập niềm hy vọng và sống có mục đích. Khi mong muốn những đều tốt lành đến với mọi người, ta sẽ cảm thấy hạnh phúc tràn ngập con tim.
5. Trung thực: là luôn nói sự thật. trung thực không có nghĩa là mâu thuẫn hoặc thiếu nhất quán trong suy nghĩ, lời nói và hành động.
6. Khiêm tốn: người khiêm tốn là người luôn biết lắng nghe và chấp nhân quan điểm của người khác. Khiêm tốn khiến người ta trở nên tuyệt vời hơn trong trái tim người khác.
7. Trách nhiệm: là chấp nhận những đòi hỏi và thực hiện nhiệm vụ với khả năng tốt nhất của mình. Người có trách nhiệm là người trưởng thành và có những suy nghĩ đúng đắn.
8. Giản dị: sống một cách tự nhiên, không giả tạo, là cảm nhận vẻ đẹp bên trong và nhận ra giá trị của tất cả mọi người, ngay cả những người nghèo và khó khăn nhất.
9. Khoan dung: Khoan dung là sự cởi mở và sự chấp nhận vẻ đẹp của những điều khác biệt. Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau. Hòa bình là mục tiêu, khoan dung là phương pháp. Người khoan dung thì biết rút ra những điều tốt nơi người khác cũng như trong các tình thế. Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi vẫn biết hóa giải những mầm mống gây chia rẽ, bất hòa và tháo gỡ ngòi nổ của sự căng thẳng được tạo ra bởi sự dốt nát.
Hạt giống của khoan dung là tình yêu thương; nước để nó nảy mầm là lòng trắc ẩn và sự quan tâm, chăm sóc.
10. Hợp tác: tinh thần hợp tác tồn tại khi mọi người làm việc cùng nhau vì một mục đích. Lòng can đảm, sự quan tâm và sẻ chia tạo nên nền tảng cho sự hợp tác
11. Tự do: Tự do hiện diện trong tâm trí và trái tim. Chỉ có thể trải nghiệm được tự do nội tâm khi có những suy nghĩ tích cực về tất cả mọi người, kể cả bản thân.
12. Đoàn kết: là sự hài hòa bên trong mỗi người và giữa các cá nhân trong cùng một nhóm. Tình đoàn kết được xây dựng từ thái độ tôn trọng, ánh nhìn sẻ chia, có chung niềm hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.
b.Các giá trị truyền thống của con người Việt Nam (mang tính bản sắc, đặc trưng của dân tộc)
1.Tinh thần yêu nước: giá trị đạo đức cao quý nhất của con người Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong tháng bậc giá trị truyền thống. Tinh yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó còn dược thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước.
2. Yêu thương con người: là giá trị đạo đức đặc trưng của dân tộc ta, một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương đồng loại và là cái gốc của đạo đức.
3.Tinh thần đoàn kết: là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam. Đây là một trong những nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam.
4.Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm: đây cũng là một giá trị đạo đức nổi bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam để đảm bảo cho sự sinh tồn của dân tộc.
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị đạo đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm tốn, lòng thuỷ chung, tính trung thực... Những đức tính này không tồn tại riêng rẽ mà liên quan đến nhau - đức tính này là điều kiện, là biểu hiện của đức tính kia.
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của mình. Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân vì nghĩa, vì đồng bào, dân tộc bất kể con người đó thuộc tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội.
IV. Phương pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS qua các môn học và hoạt động giáo dục.
Có rất nhiều phương pháp dưới đây chỉ là gợi ý một số phương pháp:
1. Phương pháp mô hình mẫu
Trong giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh, tấm gương về nhân cách người thầy giữ vai trò rất quan trọng. Chính vì vậy, chính người thầy phải được giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống đầy đủ để có thể giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh.
Người thầy là tấm gương để trò soi vào, để trò học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”.
2. Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác
Giáo viên cần giải thích cho học sinh về các giá trị sống, những thể hiện đa dạng của giá trị sống trong từng hành vi của con người trong thực tiễn xã hội.
Phần giới thiệu mục tiêu thường được thực hiện bằng phương pháp thuyết trình, trao đổi giữa giáo viên và học sinh, dưới dạng lấy phiếu nhu cầu, dưới dạng trò chơi, câu đố… Các phương pháp lựa chọn cần tạo ra sự thu hút và nảy sinh động cơ nhu cầu muốn tìm hiểu ở học sinh.
3. Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có ích để thu thập một danh sách các thông tin.
4. Phương pháp nghiên cứu tình hình
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết chọn lọc nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện qua quan sát băng video hay một băng catsset mà không phải ở dạng văn bản. Tình huống sử dụng cần phản ánh tính da dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những hoàn cảnh khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.
5. Phương pháp trò chơi
        Phương pháp trò chơi cũng là phương pháp hiệu quả, là sự tổ chức cho học sinh chơi một trò chơi nào đó để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm.
Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi, bởi cá nhân thể hiện như thế nào trong trò chơi thì phần lớn nó thể hiện như thế trong cuộc sống thực. Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở học sinh niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.
          Qua trò chơi, học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh.
6. Phương pháp hoạt động nhóm
Để tăng cường sự trải nghiệm và để đưa ra cách giải quyết theo kinh nghiệm và hiểu biết ở học sinh thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp đư­ợc thực hiện trong mối quan hệ cộng đồng, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm có một vai trò hết sức quan trọng. Thông thường với mục tiêu này thường sử dụng phương pháp nhóm. Thực chất của phương pháp này là để người cùng tham gia trao đổi hay cùng làm về một vấn đề nào đó theo nhóm nhỏ. Thảo luận hay cùng làm một việc gì đó theo nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến thái độ, giá trị hay kỹ năng cần hình thành.
7. Phương pháp đóng vai
Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như:
-         Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
-         Tạo hứng thú và chú ý cho học sinh.
-         Phát triển sự sáng tạo của học sinh.
-         Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.
-         Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
          8. Phương pháp tưởng tượng/nội suy
Các hoạt động tập trung tưởng tượng và suy ngẫm yêu cầu học sinh đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Ví dụ, học sinh được yêu cầu hình dung về một thế giới hòa bình. Khi mường tượng ra những giá trị được ứng dụng, học sinh có thể trải nghiệm và suy ngẫm về những ý tưởng của mình.
Để học sinh có thể tập trung tưởng tượng và suy ngẫm, nên sử dụng nhạc nhẹ làm nền và có sự mô tả bằng lời như một sự định hướng của giáo dục về không gian giá trị và những kỹ năng sống làm cho cuộc sống của mỗi cá nhân trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn.
9. Phương pháp bản đồ tư duy, sơ đồ hóa, mô hình hóa.
- Bản đồ tư duy về 12 giá trị sống phổ quát của nhân loại
- Bản đồ tư duy về các kĩ năng sống cơ bản của HS THCS
- Bản đồ tư duy về mối quan hệ giữa kĩ năng sống và giá trị sống
10. Phương pháp trải nghiệm, thực hành
Giáo dục giá trị sống cũng như kĩ năng sống cho học sinh chỉ thực sự hiệu quả khi chính bản thân học sinh được trải nghiệm thực tế, trải nghiệm cảm xúc dẫn đến thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi.
 
KẾT LUẬN
 
Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của ai cũng giống nhau. Giá trị sống không tự nhiên mà có, nó được hình thành nhờ quá trình tự nhận thức và sự trải nghiệm của từng người.Giáo dục giá trị sống cho học sinh là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc vừa rèn “đức” vừa luyện “tài”.

Nguồn tin: Suu tam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin cũ hơn